gocdiepdung

Archive for the ‘Thư Viện Diệp Dung’ Category

Trong cuộc sống của con người ta việc đem chuyện đời tư của người khác ra để mà nói quả là đáng xấu hổ, tôi biết rất rõ điều đó. Tuy tôi không phải là nhà văn hay nhà báo và cũng không muốn vậy, nhưng hôm nay tôi cũng mạn phép được đem chuyện của người bạn tôi ra đây để được một lần hy vọng… và cũng là để nói với chính người bạn mà tôi luôn quý trọng.

Một hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao vẫn là hy vọng…

… (Tao không phải là hám danh để mà lôi mày ra đây đâu Chí ạ. Với lại chuyện của mày chẳng đáng một xu! Chỉ vì tao thấy tội nghiệp cho vợ con mày và ghét thói tự trọng theo kiểu khí khái cổ lỗ sĩ của mày nên tao phải làm cái việc bất đắc dĩ này. Mà thật ra cái tự trọng với cái tự kỷ chỉ cách nhau bằng một tờ giấy thấm, khi đã thấm mực rồi đưa ra xem thì mặt nào cũng có chữ cả, khác nhau chỉ là ở chỗ chữ ngược hay chữ xuôi mà thôi.

Mày là một thằng…! Hãy nghĩ lại đi! Chẳng ích gì khi đem vò nhàu đi cả một tờ giấy trắng mới chỉ có vài ba vết mực. Mày bảo tao là thằng “mọt”rỗng, dù có“mọt” thì tao cũng phải lôi mày ra đây một lần, chẳng phải là để trả thù cho cái tính của mày hay đưa chuyện làm quà cho vui hoặc chỉ là để lấy vài trăm tiền nhuận bút mà là vì vợ con mày cũng đã ăn hết nửa cái xe máy của mày để lại rồi và cũng là để tao hy vọng…)

Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao cũng là hy vọng…

Ở đời ai cũng có một cái tên để mà gọi, mà phân biệt ông nọ bà kia. Ai cũng muốn mình có một cái tên hay, tên đẹp, nhưng khổ nỗi cái tên lại thường do cha mẹ áp đặt cho mình. Cha mẹ nghèo khó thì cứ đặt phứa là thằng Cu, cái Tý cho xong chuyện để mà còn lo cơm áo gạo tiền. Cha mẹ hiếm muộn thì kỹ lưỡng hơn một chút và cố tình kiếm một cái tên xâu xấu đặt cho con kẻo sợ ma quỷ nó chấm mất. Chỉ khổ cho con cái khi lớn lên đi làm, đi học phải thẹn thùng, phải đổi tên nên cũng lắm nỗi! Nhờ cái tên, đôi người cũng“làm ra ăn nên”, mà cũng vì cái tên mà nhiều người khác phải long đong lận đận…

Cha mẹ bạn tôi là gia đình cán bộ và là gia đình có học thức nên đặt tên cho nó là Chí, với ước mong hắn có chí để mà nên người. Không biết với người khác thì sao chứ với hắn thì cái tên đúng như là một định mệnh ám vào cuộc sống của hắn, năm hắn học lớp 6 bị ở lại lớp cũng vì cái tên ấy.

Hồi đó, trong lớp, bạn bè cứ gọi hắn là“Chí Phèo”. Một hôm, nhân sinh hoạt lớp, cô chủ nhiệm kiêm giáo viên bộ môn Văn nói đùa trước cả lớp: “Cậu Chí mà được như Chí Phèo đã là may. Cậu mới chỉ xứng đáng là Chí Ngây thôi! ”Chẳng biết từ“Ngây”đến“ Phèo”cách nhau mấy bậc mà cô lại vô tình nói như vậy. Và từ đó, cái tên Chí Ngây đã trở thành tên thường gọi của hắn. Cũng từ đó, hắn thù ghét môn Văn và tỏ ra đối kháng với cô chủ nhiệm. Thường thì hắn kiếm lý do để nghỉ học giờ văn, còn không thì cũng nghĩ ra vài trò nghịch nghợm gì đó để bị đuổi ra khỏi lớp. Và giọt nước đã tràn ly khi hắn bị phát hiện ra là người đã bỏ “hắc ín” lên ghế ngồi của cô chủ nhiệm. Miệng thì chối đây đẩy mà hai hàng nước mắt của hắn cứ dòng dòng chảy, nhưng những giọt nước mắt đã không rửa sạch được đôi bàn tay dính đầy“hắc ín”của hắn. Kết thúc năm học với hạnh kiểm kém cộng thêm điểm tổng kết môn văn kém, hắn đã bị ở lại lớp. Vậy mà hắn cứ nhơn nhơn như chẳng có chuyện gì.

Thực ra thì hắn là một thằng học khá đều ở các môn, chỉ vì tính nghịch nghợm, táy máy nên luôn bị thầy cô giáo ghét. Chả thế mà 7 năm học phổ thông hắn đã hai lần ở lại lớp vì hạnh kiểm. Nhưng cũng hai lần hắn được đi thi học sinh giỏi toán cấp thành phố. (năm lớp 4 và năm lớp 7).

Gọi hắn là Chí Ngây cũng có phần đúng. Những giờ học trên lớp, gặp giờ học hắn thích là hắn cứ ngây ra như uống phải thuốc tê, quên hết những trò nghịch nghợm. Có hôm, giáo viên giảng bài ra khỏi lớp đã từ lâu nhưng hắn cứ đực người ra lẩm bẩm như đang cầu kinh trong nhà thờ. Hắn ngây nhưng không phải lúc nào cũng ngây ngây như ai đó nghĩ. Giờ ra chơi, lúc bạn bè vui chơi thì hắn cứ đứng ngây ra để xem nếu gọi hắn cùng tham gia thì thể nào hắn cũng nghĩ ra một trò gì đó theo cách của hắn. Ví dụ như chơi kéo co thì hắn bảo đừng kéo bằng dây, vì kéo như thế thì sẽ có đứa lợi dụng chỉ bám vào dây mà không kéo. Cứ đứa này ôm lấy đứa kia, ai ăn gian là lòi ra ngay. Nhưng rồi chơi như vậy chẳng đứa nào chịu đứng đầu và hắn lại xung phong ra“đứng mũi chịu sào”! Ở đời, chẳng ai muốn rước cái khổ vào thân nhưng hắn lại coi như đó là cái lẽ bình thường. Hắn hay nói, ai cũng giành phần sướng thì để phần khổ cho ai… Và nếu không có những người nông dân lam lũ cục cằn thì lấy ai trồng lúa cho mấy người trí thức ăn để mà ngồi viết, mà thong dong, mà chê người khác quê mùa. Cũng cái lý ấy, có lần hắn quên cái mũ trong ngăn bàn ở lớp học, nhờ có trực nhật nên hắn nhận được lại cái mũ, thế là hắn tuyên bố tự nguyện trực nhật cho lớp cả tháng. Sau đó, ngày nào tới lớp hắn cũng mang theo một cái chổi cán dài đi nghễu nghện giữa phố một cách rất tự hào, còn cái mặt thì cứ ngây ra như một cậu tân binh vừa được trang bị súng…

Hắn sinh vào một ngày cũng rất đáng để nói, ngày đó là ngày 29 – 2, một ngày nhuận. Có lẽ thế mà cuộc đời hắn hay bị“nhuận”chăng… Bảy năm học phổ thông, hắn bị nhuận hai lần, cách nhau bốn năm. Hai lần đi thi học sinh giỏi toán cũng cách nhau bốn năm. Không biết ngày sinh tháng đẻ có ảnh hưởng đến cuộc đời và tính cách của mỗi người hay không, nhưng đối với hắn, sinh nhật là một cái gì đó như là một nỗi buồn. Bởi bốn năm mới có một ngày sinh nhật cho nên thấy bạn bè mỗi năm tổ chức sinh nhật một lần, dù có mời thì hắn cũng tìm cách lảng tránh, còn vẻ mặt thì cứ ngây ra như ngửi phải một cái mùi gì đó là lạ. Biết thế nên tôi chẳng bao giờ mời hắn đến dự sinh nhật của mình…

(… Như tao đã nói, tao chẳng muốn tọc mạch, lôi cuộc đời riêng của mày ra làm gì, nhưng mà tao hy vọng…

Có ai đã nói: “Hành vi tạo thói quen, thói quen tạo tính cách, và tính cách tạo nên cuộc đời! ”. Mà sách của các cụ ngày xưa thì lại bảo: “Nhân chi sơ… ”thì rõ ràng thói quen của con người là do môi trường tạo nên, cho nên mày việc gì phải tự trách mày, trách số phận làm gì. Đã thế lại còn giở tự trọng với tự ái ra để tự hành hạ bản thân, lại còn hành hạ cả những người thân của mình. Cái tự trọng hay tự ái của mày dù có lớn bằng ông trời đi chăng nữa thì mày cũng chỉ là một hạt cát và hạt cát đó cũng chẳng đủ làm đau một bàn chân của ai đó vô tình dẫm lên. Tao sẽ bằng mọi cách lôi mày ra khỏi nơi mày náu thân để mà tao hy vọng…)

Tốt nghiệp xong lớp 7 với 36 điểm, nhưng vì hạnh kiểm nên hắn không được chuyển thẳng vào lớp 8. Lúc đó, một sự kiện xảy ra với gia đình hắn. Bố hắn từ trong miền Nam ra sau khi bị một mảnh pháo găm trên đầu. Tuy mảnh pháo đó đã được lấy ra nhưng vẫn để lại trong đó những cơn động kinh bất chợt của bố hắn. Thỉnh thoảng có tiếng động đột ngột là bố hắn lại lăn đùng ra ngất lịm, phải mất cả tuần sau ông mới tỉnh lại được. Thế là hắn nghỉ học. Dù rất thiết tha với sự học nhưng hắn không thể tiếp tục học được nữa, phần vì hoàn cảnh gia đình, phần vì quá tuổi do hai lần bị“nhuận”cộng với đi học muộn mất một năm. Và cánh cửa của trường cấp III đã đóng sầm lại trước mũi hắn.

Khi bố hắn đi an dưỡng một thời gian, mẹ hắn đã đồng ý cho hắn khai tăng thêm hai tuổi để đi làm lao động phổ thông ở trong một nhà máy. Sợ hắn lông bông, bà bảo: “Ở cái thành phố sầm uất này, con người không có việc làm dễ sinh ra trộm cắp! ”. Trong lúc bạn bè hắn còn mài đũng quần trên ghế nhà trường thì hắn đã được cầm thẻ cử tri đi bầu cử. Và cái thẻ cử tri như là một lá bùa của hắn, đi đâu hắn cũng mang theo, bởi hồi đó, cái thẻ cử tri có giá trị như một chứng minh nhân dân.

Có lần, lơ ngơ thế nào, hắn lại đạp xe đi nhầm vào đường ngược chiều, một cô Công an xinh xắn thổi còi bắt hắn lại, nhìn thẳng vào cái bộ mặt non choẹt của hắn, cô công an lạnh lùng hỏi:

– Tên anh là gì…

Hoảng quá, hắn cứ nhìn chằm chằm vào đôi găng tay màu trắng của cô Công an rồi nói một cách ngọng nghịu lí nhí:

– Dạ… dạ… em… cháu tên là…là chi ạ!

Mấy tiếng cuối cùng hắn nói như nghẹn lại. Tiếng Chí mà nghe cứ như là chi vậy. Cô Công an nghe không rõ, nhìn vào ánh mắt hắn, tưởng hắn đùa nên vội quát:

– Tôi hỏi anh, sao anh lại hỏi lại tôi. Anh định giở trò đùa với tôi đấy à… Anh có giấy tờ gì không…

Sực nhớ tới cái thẻ cử tri, hắn vội vàng lấy ra đưa cho cô công an xem. Cô Công an xem xong không nén được cười nhưng cũng tặng cho hắn một cái biên lai phạt hành chính với cái giá lúc đó là 5 đồng. Khi đó, vẻ mặt hắn đã ngây lại càng thộn ra như ngày nào còn vác cái chổi nghễu nghện đi ngoài phố…

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, gia đình hắn chuyển vào Nam sinh sống, vì ba hắn vốn là một cán bộ tập kết. Nhưng rồi rắc rối lại xảy ra với gia đình hắn, lúc đi làm thủ tục giấy tờ, chính quyền phát hiện ra sự khai man tuổi của hắn. Hộ khẩu khai sinh ghi một năm, còn giấy chuyển công tác lại ghi một năm khác. Đến lúc này, ba hắn mới biết hắn khai man tuổi để đi làm và ông đã mắng mẹ hắn vì cái tội dung túng cho con làm điều gian dối. Cuối cùng, hắn đành phải quyết định bỏ hẳn giấy chuyển công tác, coi như mấy năm công tác đổ xuống sông để trở lại thành con đi theo cha mẹ. Và thế là mọi thủ tục hành chính để trở về quê hương cũng thông suốt…

(… Hồi nào tao còn nhớ, mày bảo với tao rằng, ba mày rất thương mày, mong mày có chí để sống, để vươn lên đúng bằng khả năng của mày. Ông còn bảo rằng mày là con đầu nên mày như là một viên gạch lát đường để cho các em mày bước lên. Giờ đây, những đứa em mày cũng đã yên bề gia thất như sở nguyện của ba mày lúc còn sống, vậy thì mày còn đòi hỏi điều gì nữa… Phần khác, con mày cũng xinh xẻo thông minh như mày, vợ mày cũng thương mày hơn cả mẹ mày, thử hỏi có ai hạnh phúc như mày nữa không…

Tao cũng còn nhớ, ba mày chỉ khuyên mày đừng đi làm những gì dính dáng đến kinh tế hay chính trị, chứ có khuyên mày tự đi hành xác mày đâu. Chả lẽ, ở cái thành phố này chật hẹp đến nỗi không còn có chỗ cho đôi bàn chân mày đứng… Nói ra điều này tao chỉ mong mày nghĩ lại. Với khả năng của mày thì hà cớ gì phải làm trong một cơ quan nào đó mới thể hiện được năng lực của mình!…)

Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao vẫn là hy vọng…

oOo

Trở về Nam, nhưng thực chất là một dải đất hẹp ở miền Trung bên kia giới tuyến cũ, gia đình hắn cũng sớm ổn định. Mặc dù nhà cửa tuềnh toàng trong một căn cứ cũ của Mỹ bỏ lại nhưng cũng khá đầm ấm. Nhờ bạn bè của ba, mẹ hắn và hắn được vào làm trong một Xưởng đóng tàu thuỷ. Có ba chỉ bảo hướng dẫn và sẵn có một chút thông minh nên chỉ sau sáu tháng, hắn đã lấy được giấy chứng nhận công nhân bậc 3 đóng tàu thuỷ vỏ gỗ.

Từ ngày được sống gần ba hắn, hắn học hỏi được rất nhiều điều. Mỗi thứ mỗi tý, ba hắn đã tạo cho hắn sự đĩnh đạc, ý chí vươn lên trong cuộc sống. Có một điều ba hắn và hắn rất tâm đắc, đó là sống phải luôn học hỏi, học ở trong sách vở và ở cả trong những người xung quanh. Không cứ gì phải học trên trường trên lớp. Học trên trường lớp mà đầu óc rỗng tuyếch thì cũng bằng không. Câu nói của Lê nin: “Học, học nữa, học mãi! ” là câu nói mà ba hắn vẫn thường nhắc hắn.

oOo

(… Đấy, tao nói như vậy mày đã hết mặc cảm chưa hả Chí Ngây! Hà cớ gì cứ phải học chính quy mới gọi là có học. Thời buổi này ối người có bằng này bằng nọ nhưng trong đầu có cái gì đâu. Quên phéng cái chuyện bằng cấp đi, việc này tao với mày đã thống nhất với nhau rồi cơ mà. Bằng cấp chẳng qua là việc quản lý hành chính của Nhà nước và cũng chẳng dính gì đến cái vốn kiến thức đang có ở trong đầu mày cả. Tại sao mày lại đem cái vốn kiến thức ấy đi chôn dấu ở đâu đó hả Chí Ngây… Tao hy vọng…)

Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao cũng là hy vọng…

oOo

Và chuyện học của hắn cũng đáng để lôi ra lắm, vì chẳng có ai có cái kiểu học như hắn. Làm công nhân luôn phải làm ca kíp nên rảnh rỗi lúc nào là hắn vớ ngay sách hay bất cứ tờ báo gì, cứ có chữ là đọc. Đọc trước khi đi ngủ, đọc trong giờ giải lao và đặc biệt là cả những lúc đi nhà vệ sinh nữa (thành thật xin lỗi Chí nghe vì tao phải nói thật như vậy). Hắn bảo lúc đó chính là lúc rảnh rỗi nhất và tập trung nhất, hơn nữa qua đó sẽ tập được tính đọc nhanh. Chẳng biết cái lý của hắn đúng đến đâu, nhưng có lần hắn ngồi lì trong nhà vệ sinh tập thể cả tiếng đồng hồ, báo hại cho người khác đang lúc đau bụng phải chờ hắn, tức hắn làm inh lên réo hắn…

Làm công nhân được một thời gian thì cơ quan hắn có một chỉ tiêu đi học Bổ túc văn hoá tập trung của tỉnh mở. Cùng lúc đó có ba suất đi lao động xuất khẩu tại Đông Đức cũ. Vì hắn là lao động tiên tiến nên được phép lựa chọn và hắn đã chọn việc đi học. Hắn bảo: Lao động thì ở đâu mà chẳng lao động, còn đi học mà vẫn được hưởng lương thì tội gì không đi học! Thế là hắn vui vẻ nhận quyết định đi học. Có người bảo hắn dại thì hắn chỉ ngây cái mặt ra rồi thả xuống một câu: “Ở đời biết ai dại, ai khôn! ” Nói xong nó quay đít đi như đang bước “một, hai”một cách tự hào.

Những năm học ở trường Bổ túc văn hoá cán bộ tập trung, hắn là học viên trẻ nhất trường và cũng học giỏi nhất trường. Thấy vậy, mấy người cùng lớp và giáo viên trong trường cứ động viên hắn học xong thì đi thi vào đại học. Về nhà được ba mẹ đồng ý nên hắn cũng như được tiếp thêm nghị lực.

Nghe hắn trình bày nguyện vọng, ông giám đốc cơ quan hắn cũng đồng ý ký giấy cho hắn đi dự thi. Thế là hắn yên tâm ôn luyện sau khi cầm chắc tấm bằng tốt nghiệp cấp III Bổ túc văn hóa vào loại giỏi, cũng 36 điểm với bốn môn thi. Hắn khấp khởi chắc mẩm phen này không thể “nhuận”được nữa…

Cuộc sống đầy rẫy những bất ngờ và luôn ẩn nấp ở đâu đó chỉ chờ những ai hí hởn và lao ra vồ lấy. Lần đầu tiên sau bao nhiêu cố gắng, hắn mới biết thế nào là điểm 2, điểm 3. Bởi cái chương tình hắn học chỉ là phương cách để hợp thức hoá một loại bằng cấp mà thôi. Khi ra đấu trường thi cử tự do thì Tích phân, Vi phân đã ngáng chân hắn ngã đánh rầm một cái trước bậc thềm Đại học. Vậy mà hắn chỉ cười và thộn mặt buông một câu lỏng lẻo: “Thất bại là mẹ của thành công! ”…

oOo

(… Chí Ngây, mày còn nhớ câu đó chứ! Sao mà bây giờ mày lại chóng quên đến thế. Hôm vừa rồi tao ghé nhà mày chơi, vợ mày có khoe cái truyện ngắn mày viết cho cái báo gì đó ở trong Sài Gòn từ hồi nào đến giờ họ đã đăng rồi đó. Nghe vợ mày nói hình như còn được giải của báo cho những tác giả trẻ và đã gửi báo biếu đến tận nhà mày rồi. Còn tiền nhuận bút và tiền giải thưởng tao không biết được bao nhiêu, nhưng vợ mày đâu có đi nhận được. Chả lẽ mày đã từ bỏ không thèm đọc cả báo nữa! Hay là mày không chịu biết! Tao đang tức điên lên đây. Nếu hôm nay, việc làm của tao là vô ích thì tao vẫn làm, không phải là cho mày nữa, mà là cho vợ con mày. Và cũng là để tao hy vọng…)

Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao vẫn cũng là hy vọng…

oOo

Thi rớt Đại học và nếm mùi thi cử, hắn trở về làm việc và học hành có vẻ quy mô hơn. Nhờ có thẻ mượn, hắn đến thư viện mượn các loại sách giáo khoa về nghiên cứu. Nào là tú tài A, tú tài B, Toán 11, Toán 12, hoá hữu cơ, hoá vô cơ… Vừa đi làm, vừa học. Phần nào hắn không hiểu thì hắn đi hỏi. Hắn bảo, người đời chỉ ghét những ai dấu dốt chứ chẳng ai ghét người ham học hỏi. Nhưng…

Lần này thì do nhu cầu của cơ quan nên hắn không được đi dự thi nữa, vì cơ quan không có chỉ tiêu kinh phí đào tạo. Phần khác do hắn có tay nghề vững nên tổ chức quyết định điều hắn lên bộ phận KCS để làm công tác kiểm tra chất lượng. Tuy được điều lên gián tiếp như là mơ ước của bao nhiêu người thời đó nhưng hắn vẫn cứ hậm hực trong lòng.

Rồi thời gian trôi đi trong những biến cố khác. Em trai hắn đi bộ đội hy sinh ở biên giới. Ba hắn đau buồn lâm bạo bệnh rồi cũng mất. Mẹ hắn nghỉ hưu. Và hắn trở thành trụ cột của gia đình. Hồi này trông hắn già đi như một người nào khác…

Sau một lần bão lụt xảy ra, tôi tới nhà hắn, đúng ra lúc đó cái nhà hắn chỉ còn trơ lại mấy cái cột kèo như nhũng cánh tay chới với lên trời, còn mấy tấm tôn trên mái đã bay vèo đi đâu mất. Nhìn khuôn mặt thất thần của hắn, tôi cũng chẳng thốt lên được một lời nào để mà an ủi hắn.

Tôi bảo hắn đi mua mấy cuộn giấy dầu về để lợp lại nhà nhưng hắn buồn bã nói với tôi:

– Tao vừa đấm thằng cha trưởng phòng tổ chức!

– Mày điên sao hở Chí… –Tôi ngạc nhiên và hỏi như quát vào mặt hắn.

– Mày thấy đấy, nhà tao tao không cứu, lại chạy đi tới cơ quan để cứu tàu, bốn chiếc vừa hạ thuỷ chưa nghiệm thu mà chỉ có mỗi một người bảo vệ, tao không tới thì trôi mẹ nó hết rồi. Hàng đống của chứ phải ít đâu. Mà cũng một phần tại tao cơ, neo được ba chiếc rồi, còn chiếc thứ tư mệt quá, luống cuống thế nào chân vịt nó quấn xừ vào chiếc trước. Tao cũng đã nhận lỗi trước lãnh đạo và hứa chờ nước rút tao sẽ khắc phục hậu quả. Thế mà thằng cha trưởng phòng tổ chức nó cứ chụp mũ tao là phá hoại tài sản Nhà nước, vì không có bằng lái tàu mà dám nổ máy để chạy tàu và đây là hành động cố ý. Điên tiết, tao tương vào mồm nó mấy đấm!

Nghe hắn kể một thôi, tôi ngẩn người ra và nói:

– Đúng là vì bão lụt nên mày bị“ẩm”mất rồi. Không có bằng thì nhịn đi một tý không được à. Thôi chuyện qua rồi, đi mua giấy dầu về sửa nhà đi!

Tôi nói xong, hắn vẫn ngồi ngây ra như để nhấm nháp nỗi buồn, rồi chợt đôi mắt hắn mờ đi và nói:

– Tao không còn tiền, kỳ lương thì chưa tới, còn xin tạm ứng có lẽ là không được!

Thế là tôi phải chạy đi tìm bạn bè để mượn tiền mua giấy dầu cho hắn lợp lại mái nhà.

Mọi biến cố rồi cũng chóng qua như nó đến nhưng hậu quả thì con người phải gánh chịu. Và thế là hắn bị buộc thôi việc sau biến cố đó. Ân huệ cuối cùng mà ông giám đốc giành cho hắn là được đi tìm cơ quan khác, nếu họ tiếp nhận thì cho chuyển công tác.

Mấy tháng trời lặn lội gõ cửa các nơi, cuối cùng nhờ mấy người quen hồi đi học Bổ túc, hắn được nhận vào làm trong một cơ quan Xuất nhập khẩu mới thành lập. Quả là may mắn! Từ đó cuộc sống của gia đình hắn bắt đầu phần nào được cải thiện. Một thời gian sau hắn cũng sửa lại được ngôi nhà khá khang trang, nguyện vọng được đi học của hắn cũng được đáp ứng sau mấy năm học Đại học tại chức Kinh tế kế hoạch. Mấy đứa em hắn cũng được hắn lo chu toàn từ học hành đến lập gia thất. Và hắn cũng lấy vợ, một phụ nữ hiền lành làm văn thư ở cơ quan hắn…

oOo

(… Chí à.! Năm học vừa rồi thằng cu Banh của mày được danh hiệu là học sinh xuất sắc. Hôm nhận phần thưởng là một bộ quần áo, nó mặc quần áo mới và ước gì có ba để chở nó đi chơi công viên để chụp ảnh. Nghe nó nói mà vợ mày ngồi ứa nước mắt. Còn tao thì điên tiết lên vì mày.

Tao biết, đã lâu rồi mày không lao động chân tay, chắc chắn một công việc nào đó hiện nay không thể thích hợp với đôi bàn tay đã quen dần với việc cầm bút của mày. Nhưng dù sao tao cũng hy vọng…)

Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao cũng là hy vọng…

oOo

Bẵng đi một thời gian dài khi đất nước bước vào giai đoạn mới, vì chia tỉnh nên tôi phải về tỉnh mới để công tác và cũng ít gặp hắn, chỉ biết tin hắn qua một số người quen nói lại. Nghe đâu, hắn tiếp tục đi học thêm một lớp Đại học Pháp lý tại chức nữa và sau đó chuyển sang một cơ quan thuế. Còn vợ hắn đã nghỉ việc theo chế độ 176 và ở nhà nội trợ. Tôi và bạn bè cứ tấm tắc khen hắn là một thằng có chí, biết vượt qua mọi hoàn cảnh để tự vươn lên… đang mừng cho hắn thì…

Nhân một chuyến đi công tác, tôi ghé lại thăm gia đình hắn. Vợ hắn nhìn tôi một cách buồn bã, nước mắt rưng rưng kể lại:

– Lấy nhau từng ấy năm trời mà em không tài nào hiểu được anh ấy. Hồi anh ấy học xong lớp Pháp lý, rồi chuyển sang cơ quan thuế, thấy anh ấy lầm lỳ hẳn, chẳng bao giờ nói chuyện với em về công việc của anh ấy. Năm ngoái, trong một lần cãi nhau với ông Chi cục phó về thủ tục giải quyết một lô hàng hoá trong một vụ buôn lậu, bởi ông ta ỷ quyền lãnh đạo bắt anh ấy làm trái luật, thế là anh ấy đã đánh ông ta tím cả một bên mắt rồi bỏ về. Vài hôm sau anh ấy bán luôn chiếc xe máy của gia đình, đưa cho em một nửa tiền rồi nói đi thăm bạn ít ngày. Vậy mãi đến hôm nay anh ấy vẫn chưa về!

Nhìn khuôn mặt nhăn nhúm của vợ hắn nhoà đi trong những giọt nước mắt, tôi cầm lòng không đậu. Tự nhiên lúc này một nỗi giận vô cớ từ đâu tràn về ngập trong lòng tôi, làm tôi chơi vơi như là đang rơi trong một miền nào đó. Im lặng một hồi lâu, tôi nghẹn ngào hỏi:

– Thế em có biết anh ấy đi thăm ai ở đâu không…

– Em chỉ nghe mấy người bạn nói là anh ấy đi Tây Nguyên!

oOo

(… Chí ạ! Tao thề với mày rằng, tao nói không sai là mày đang tìm cách đi phát rẫy trồng cà phê là đúng một trăm phần trăm. Không có lý gì để mày phải bỏ đi hơn cả năm trời như vậy. Tao biết, với một thằng như mày thì dám làm tất cả mọi điều như vậy lắm, chỉ trừ những việc mày cho là bon chen xấu xa là mày không làm thôi. Mày muốn làm cái gì thì làm, nhưng tao chỉ mong có một điều là mày phải biết các cụ ngày xưa đã nói: “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà! ”và cả ba điều ấy đều có ý nghĩa như nhau cả, thiếu đi một cái là không bao giờ có thể thành công được. Mày có biết hiện nay giá cà phê đang bị hạ một cách thảm hại không… Hay là mày biết mà không thèm để ý để rồi tự hành xác mày, hoặc là mày lại một lần nữa đem cuộc sống của mày ra để đánh đổi thêm một lần. Tao nói thật với mày nhé, ở cái tuổi của tụi mình bây giờ không cho phép thử nghiệm thêm một lần nào nữa đâu Chí ạ!

Và cuối cùng là tao hỵ vọng, hy vọng là mày phải ngộ ra một điều: Sự tự do không phải là cứ chui vào trong rừng sâu hay là ra ngoài hải đảo mới tìm thấy được. Mà sự tự do nằm ở ngay trong năng lực và sở trường của mỗi con người, tức là nằm ngay trong cái thằng Ngây của mày đấy Chí ạ! Hãy bằng lòng với cái mày đang có đi cái đã, việc gì phải dấn thân thêm một lần như thế. Tới đây tao hy vọng mày sẽ đọc được những dòng chữ này, bởi lẽ dù gì thì mày cũng khó bỏ được thói quen đọc sách báo. Hy vọng của tao dẫu rất mong manh, nhưng tao vẫn luôn hy vọng, bởi vì tao cho rằng, tao đang làm một công việc có ích cho bạn tao và cho cả vợ con nó…)

oOo

… Tôi viết câu chuyện này ra đây không phải hy vọng về một điều gì đó to tát như là để lay chuyển suy nghĩ của một con người, nhưng tôi phải viết, viết để mà hy vọng… Vì chỉ có cách này mới mong chuyển được đến bạn tôi những lời nói chân thành của một người bạn thân chí cốt.

Hy vọng mong manh, nhưng dù sao cũng là hy vọng…

Từ cái hồi bạn tôi đi cứu tàu khi bão lụt rồi xảy ra cái sự cố đánh Trưởng Phòng tổ chức buộc phải thuyên chuyển công tác, cho đến sau này là đánh ông Chi cục phó cơ quan Thuế bởi sự lộng quyền của ông ta, thì mọi người đều cho bạn tôi là kẻ đánh lãnh đạo có hệ thống, đó là một thái độ cực đoan và hành động của kẻ mất trí.

Nhưng như ở trên tôi đã nói: Cuộc sống đầy rẫy những bất ngờ và luôn ẩn nấp ở đâu đó chỉ chờ những ai hí hởn là lao ra vồ lấy. Và hôm nay chính tôi lại là nạn nhân của những bất ngờ ấy.

Ngày hôm trước, khi đang ngồi viết lách nhì nhằng thì tôi nhận được một gói bưu phẩm. Mở gói bưu phẩm ra trong đó chỉ có một gói cà phê loại 1kg mang nhãn hiệu“Chí Trung”. Đây là một thương hiệu cà phê đang được thị trường ưa chuộng và quảng cáo ì xèo trên tivi hàng ngày. Tôi xăm xoi hàng tiếng đồng hồ mà không biết gì hơn ngoài thông tin dán bên ngoài gói bưu phẩm mang dòng chữ: “Công ty TNHH chế biến nông thổ sản Chí Trung”. Địa chỉ… Thị xã Buôn Mê Thuột. Tôi cứ nghĩ đây lại là một trò quảng cáo mới của công ty này nên không tiếp tục tìm hiểu kỹ, còn cái thông điệp“Khơi giòng ”ghi trên đó có làm tôi thán phục một chút cho người nghĩ ra câu ấy.

Nhưng rồi sáng hôm sau, khi tôi bắt đầu cầm bút viết thì lại nhớ tới hắn. Vội vã tìm số điện thoại điện cho một người bạn ở Tây Nguyên, tôi được biết: Cái công ty TNHH chế biến nông thổ sản Chí Trung ấy chính là của hắn và người bạn cùng nhau thành lập từ lâu nay. Thấy cà phê hạt “rớt”giá, hai người đã hè nhau tổ chức Công ty chế biến này để cùng nhau kinh doanh cà phê trong thời kỳ mới.

Thì ra sau khi đánh ông Chi cục phó xong, hắn nghỉ việc Nhà nước, nhận chế độ”một cục”rồi ra đi mà không cho ai biết. Và có nghĩa là một lần nữa hắn đã lại vượt qua được “bão lụt” của cuộc sống !

Vào thu 8/2004
LHX

Sáng nay gặp anh bạn đang ngồi hút thuốc trong phòng, vẻ mặt buồn như… thua độ đá banh. Hỏi sao ỉu xìu vậy… Bạn bảo, hàng điệp đỏ trước nhà, ven theo bờ hồ, “thằng kỹ sư nông nghiệp nọ kết liễu rồi”. Hàng cây cao đang vào độ trổ bông, cháy lòng cháy dạ mấy nhỏ học trò đang vào mùa thi cử. Vậy mà chỉ để cho cái sân sáng láng, người ta đã phá bỏ nó đi. Nghe nói lúc đầu mấy ông già hưu trí la quá trời, người nọ không dám chặt, anh ta lén rải thuốc, kỹ sư nông nghiệp mà, thiếu gì cách. Mấy bữa nay hàng cây bắt đầu quéo ngọn, xuống lá tả tơi…

Cái cảm giác bất lực làm anh bạn trở nên trầm uất. Cuộc sống đầy rẫy những điều phiền muộn. Một hàng điệp vừa qua đời. Một đứa bé ngủ li bì (vì tác dụng của thuốc) trong tay người ăn xin (mà ai cũng biết tỏng ông ta không phải là cha nó). Một ngôi nhà lai căng đỏ chót ở góc đường. Một cụ già nằm soài ngoài đường, kẻ gây ra tại nạn đã chạy mất. Vân vân và vân vân. Tôi cũng gặp biết bao chuyện cứ âm ỉ ám vào nụ cười của mình. Kinh nghiệm, càng đa cảm với sự mạnh yếu, thấp cao thì rước đau vào lòng. Như anh bạn tôi, cứ mỗi lần cơ quan tổ chức hội họp, tổng kết hay dịp kỷ niệm ngành, chờ mãi lãnh đạo không tới dự, anh thấy mình tủi thân quá, nghĩ cũng là “con” sao cấp trên bên trọng bên khinh, chắc mình là “con ghẻ” nên phải chịu cảnh thiếu ăn, thiếu tình thương phụ mẫu. Bữa rồi sơ kết sáu tháng ở sở V, bữa kia ở sở X thì đủ mặt bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch…

Nghĩ tới nghĩ lui, đa sầu đa cảm riết rồi anh đổi tính, nhún nhường, mặt lúc đăm chiêu, buồn buồn, tủi tủi, giọng uẫn ức, càm ràm như ông già tám mươi. “Sao mà mở con mắt ra là thấy cảnh mạnh hiếp yếu, giàu hiếp nghèo. Thấy nhà cao quăng rác xuống nóc nhà thấp, xe bốn bánh xịt khói bụi vô mặt người đi xe hai bánh. Lãnh đạo nằm… bệnh viện cũng ngon lành hơn dân (chớ nói chi tới chuyện cưới gả, tân gia, thôi nôi, đầy tháng…). Văn thư ủy ban xã râu mới lún phún chưa đủ cứng đã ra oai, hách dịch với cụ già… ”. Kể tới đây, anh bạn thở dài, ra vẻ rầu trong bụng quá chừng. Niềm vui, nỗi đam mê lớn nhất của anh là bóng đá, nhưng vì quá sầu muộn nên cái cách xem bóng đá của anh cũng ngộ, thay vì yêu đội bóng giỏi có lối đá đẹp, đấu pháp hay… anh lại chằm chặp bênh đội chiếu dưới, đội yếu thế, đội không tên tuổi… Thí dụ như kỳ Euro vừa rồi, thức trắng, cắm đầu cắm cổ để ủng hộ Bungari, Nga, Latvia… sáng ra vào cơ quan, anh thất thểu. Hỏi sao chuốc sầu não vô mình làm chi… Anh phân trần, thấy đội yếu là anh thương, thương vì hoàn cảnh của họ sao mà giống mình.

Coi lại gần hết cuộc đời, anh ghét nhất là sự không công bằng. Vì vậy mà sáng nay anh không quên buồn bã tiếc thương cho một hàng điệp đỏ, thương cái phận yếu ớt bọt bèo của cây cỏ trước sự tàn ác của con người.

Nhưng nửa đời sắp qua đi, thường thì người ta chỉ biết tiếc nuối, cám cảnh mà quên (hay không dám) làm một điều: đấu tranh với cái xấu.

Có một đêm, tôi đi qua góc đường nơi người đàn ông ăn xin và đứa bé hay ngồi. Họ đã biến mất. Tôi hối hận điên cuồng vì tiếc, đáng lẽ mình đã phải làm gì đó, và biết đâu sẽ cứu đứa bé ấy ra khỏi cuộc đời đày ải thống khổ. Ước gì tôi đã từng bước chân lại gần chỗ họ, thay vì chỉ cho xe chạy ngang qua, rồi ngậm ngùi. Và anh bạn tôi biết đâu sẽ cứu được hàng cây…

Tôi thường tự hào là mình còn biết rung động, chia sẻ, cảm thông với những trắc trở của cuộc đời (cũng khá hơn so với nhiều người vô cảm khác). Nhưng một hôm thì niềm tự hào ấy cũng không còn nữa…

St

Tôi gọi những cái chợ ruộng dân dã này là chợ của má. Bởi nó hiền lành, lam lũ như má, bởi chợ nhỏ nhoi, khiêm tốn như má, nhưng nó mang một cái hồn sâu, mênh mông lắm nên người ta nhắc nhớ hoài, thương hoài như thương… má vậy.

Bất cứ khu chợ thực phẩm nào ở thành phố Cà Mau cũng có một góc nhỏ dành cho người chợ ruộng. Chợ bắt đầu từ tiếng xe lam chở hàng lặc lè, ậm ì trong buổi sớm, bằng tiếng trò chuyện êm đềm, bằng đôi tay oằn, đôi chân mỏi. Chợ bắt đầu bằng những cái bao ni-lông trải ra nền đất. bàn tay nào bày ra đó mấy trái dừa khô, mấy nải chuối vàng, con vịt lạc cạc bên rổ trứng. Trên thúng, trên nia lún phún nhô lên những ngọn rau uống sương cong cong.

Hầu như tất cả rau trái ở quê mình có, ở chợ ruộng có. Từ rau muống, rau lang, mồng tơi, bù ngót đến lá chuối xanh, lá dứa, bó sả, nhúm ớt… Rồi cá, rồi gà, vịt, chuột đồng… Ngày rằm, ngày ba mươi, chợ trang điểm bằng bông trang được cột thành khóm đỏ tươi bán cho những người cúng bàn thờ Phật. Mồng hai, mười sáu, chợ lúc nhúc những chú gà non tơ. Trời hạn, chợ bày thúng rau đắng đất run rẩy xanh cho ta thèm một nồi cháo tống. Bữa nắng chiều, chợ có rễ tranh, mía lau… Mưa xập xoài, chợ lổn nhổn ốc lát bán kèm lá ổi, lá sả. Những con ốc lát vừa cựa mình trở dậy từ đất, thịt cứ ngọt lừ. Cũng cử này, người ta bán xổi rau muống đồng, loại rau muống bị chìm trong nước nhú lên những cái đọt non mềm, cỡ một gang tay, trắng nõn, tưởng như có thể bẻ bằng mắt một cái “bụp” ngon ơ. Mùa nào thức ấy. Nhưng có hôm ta thèm thứ trái mùa lại gặp ở đây thứ trái mùa. Vô tình, chính con người nón rách áo túi cùng những món hàng đã khoác lên cho chợ ruộng một cái áo bình dị, một linh hồn hiền hậu mà rất đỗi thiêng liêng. Thêm vào đó một chút thâm trầm dân dã. Thì có gì dân dã bằng nắm rau càng cua mọc từ chái hè, mấy trái bình bát chín hườm mọc từ hào ranh, rổ đọt lúa hái từ sân trước…..

Chỉ có vậy mà những nội trợ đảm đang mê đắm mê đuối chợ này. Họ mua được nhiều rau tươi, cá tươi, giá lại rẻ do gần như người bán chỉ lấy công làm lời. Họ mua được đầy ắp lòng tin từ bàn tay cần cù của những tấm lòng nông dân chân chất. Và những người xa quê đỡ nhớ quê nhà.

Những người ra chợ Cà Mau đều từ ngoại thành, từ những địa danh như Bà Bèo, Đàn Âm, Nhà Phấn, Tân Thành, An Xuyên vốn có truyền thống trồng rau, đi chợ.. Lọn rau muống giá 150 đồng, nhúm đọt chùm ruột giá 500 đồng, xấp lá chuối 1000 đồng… học cũng tích cóp tháng ngày. Thật ra, nhà nào cũng có một vài công ruộng nhưng “ngồi không ăn lúa kho cũng hết, nên đi bán kiếm ít đỉnh tiền”. Khuya sớm gánh gồng đi chợ, chợ tan, các mẹ, các chị về nhà, lua vội vài chén cơm, lại tần tảo quẩy giỏ, cầm dao ra vườn lo buổi chợ mai. Cắt, lặt, rửa, bó lọn… loay hoay cũng đến tận chiều. Bàn tay thấm nước, nhăn nheo, bàn tay tái nhợt. Vậy mà buồn (chắc là nông dân ai cũng buồn kiểu này), họ không định đoạt được giá cả món hàng. Nó có thể rẻ, rất rẻ (mồ hôi có rẻ vậy bao giờ).

Đội rau đi chợ trở thành một công việc đẹp của người nông dân tự đời nào không biết. Tìm được một người đi chợ lâu năm không khó, chỗ này, đằng kia đều có mặt những người dì “tính từ hồi đó đến giờ tui đi đứt cỡ 50 đôi dép Lào”. Họ là những người gắn bó máu thịt với cảnh chợ quê này không chỉ vì mưu sinh mà là mối gắn bó thiêng liêng. Không có rau, không đi chợ, đâm… buồn.. Có người lặn lội đi bán từng trái bình bát chín, không đủ tiền đi xe thì đi bộ, “miễn sao đỡ ghiền chợ. Ở nhà buồn tay buồn chân, đi bán, một trăm đồng cũng đỡ một trăm”. Những đồng tiền nhỏ nhoi nhưng đầy niềm vui bởi nó được làm ra từ giọt mồ hôi mặn, từ tấm lòng lương thiện, thẳng ngay.

Những chuyến hàng lại ra chợ vào buổi sớm mai.

Nên sáng nay con đứng nhìn và con nhớ má. Ngày xưa, có phải má con mình ngồi đằng kia, trong góc đó? Và con ngồi chồm hổm, mắt ngó về ông già bán kẹo mà tay chắt chiu rổ trứng gà con con. Ôi! Nhớ hồi xưa quá, má há ?

St

Cứ mỗi lần gặp, bác lại nhắc ba, hỏi thăm ông bạn già ra đi từ mùa chuyển dịch. Ba bỏ phố về đồng, đào vuông, nuôi tôm. Con thưa, Ba con khỏe, nhưng ốm nhom, đen thui thùi lùi, cằn cỗi người đi. Như cây dừa Xiêm đầu liếp, khi nước bắt đầu thấm vào thớ đất mặn mòi, con người cũng khác.

Khi nào rảnh, con mời bác về thăm ba con chơi.

Chỗ ba con ở không xa nhà mấy, qua cây cầu có con đường nhỏ dẫn xuống mé sông, qua chuyến đò ngang, men theo cái bờ đã lở như cá chốt rỉa sẽ đến đập Bộ Phát. Lần theo mé kinh nhỏ, bác sẽ gặp ba con. Không biết bây giờ ba con đang làm gì. Nắng này, chắc ba con đi trồng cỏ nước mặn cho cỏ bò che phủ mặt nước, để nước đừng nóng lên. Chắc ba đang đóng lại cái cống tháo nước bằng gỗ. Chắc ba đang hì hụp xúc sình bồi lên cái bờ vuông vừa lở chiều qua… Mà có thể, bây giờ ba con đang ngồi uống trà, má con nấu bữa cơm chiều, con cá phi kho khô tỏa mùi mặn nồng trên bếp, má kể sáng này thấy được con tôm rồi, nó bằng ngón tay cái vầy nè. Hai ông bà cười, mơ về những giấc mơ xa xôi lắm.

Con tin rằng, bác sẽ giật mình khi nhìn thấy ba má con như chính con giật mình khi nửa tháng, mười bữa mới gặp. Ông bà già đi nhanh, cái già tranh thủ từng ngày, từng giờ, mót máy từng khoảnh khắc của cuộc đời. Chỉ mới một mùa tôm thôi, bác à, nhưng đó là mùa tôm người nông dân vùng chuyển dịch vắt kiệt mình ra trước bao nỗi cực nhọc, buồn vui.

Con vẫn tin rằng, làm vuông nuôi tôm làm cho người ta sống cùng, sống tận với cảm xúc của mình nhất.

Vui thôi là vui cái hồi bắt đầu cất căn chòi nhỏ. Mỗi chuyến đi về, ba má con xách theo nào nồi niêu xoong chảo, nào là mùng mền chiếu gối. Ba con nói vui “cảnh nầy y chang tui với bà vừa mới cưới, được ra riêng”. Một mái ấm dựng lên trên góc đất, nằm cặp mé kinh. Một chiếc xuồng nho nhỏ buộc đằng trước nhà. Dưới ruộng, đất đang cắt, đang đào, bờ bao ngạn lờ mờ hiện ra trong làn nước. Dọc theo xóm, nhà nào, người nào cũng hồ hởi. Nửa đêm, gió thổi hiu hút, trở mình nhớ nhà, nhớ đám con cháu ở nhà, tụi nó lúc nào cũng cười giỡn, cãi vả eo xèo, cãi cũng vui thiệt là vui. Rồi ba hỏi má, mình bỏ nhà, lặn lội vô đây để làm cái gì bà ha ? Má không nói vì cái gì, má chỉ an ủi, cùng lắm hai mùa tôm, có chút vốn kha khá rồi mình sẽ về. Cái hồi đó sao mà hy vọng tràn đầy, hy vọng lênh láng.

Phải chăng vì niềm hy vọng khao khát vươn lên nên khổ cực tới đâu ba má con cũng chịu. Một đêm vài ba lần, ba má con thức dậy, đi rảo một vòng vuông, canh con nước … Mức nước ngoài sông không cao, kinh cạn, đón con nước nửa đêm, hai ông bà ì ạch khiêng máy ra tát vô đầm nuôi. Chập chờn một chút, má choàng thức, rủ ba hì hụi đem máy vô chòi. Bác cũng biết, chuyện tiếp nước cho tôm từ cơ sở hạ tầng trồng lúa cũ đang là một trong nhiều khó khăn của chương trình chuyển dịch ở tỉnh mình. Nên chuyện nước ra nước vào ở chỗ ba con như một tiểu tiết, một chấm nhỏ mờ mịt trong 200ha chuyển từ đất trồng lúa sang nuôi tôm trong tỉnh. Không ai bảo ai, bà con ở xóm kinh tự lo, tự xoay xở riêng mình như hồi nào giờ vậy, nhà nước lo được bao thì hay bấy nhiêu. Có tủi thân, tủi phận thì lủi thủi than thở với nhau chơi, vậy thôi. Nhà nước còn phải lo tỉ tỉ chuyện lớn, chuyện mất còn khác.

Những đêm mưa, sợ nước dâng ngập bờ, dầm mình đi tháo nước, những ngày nắng, lặn lội xúc từng gàu sình từ đáy đầm lên… Ba má con an ủi nhau, hồi trước giờ có khi nào nhà mình hỏng cực. Nào là trồng cải, trồng ngò đội đi chợ, nào là mua so đũa về làm nấm rơm, nào là đi mua lúa hàng xáo, rồi làm hai ba vụ lúa… Có làm gì mà không cực khổ, dậy sớm thức khuya.

Nhưng không làm nghề gì khắc nghiệt như nuôi tôm, y như trên chiến trường, “thắng làm vua, thua làm giặc”, mà là giặc nghèo, giặc đói mới chết. Ba tháng nhọc nhằn, ba tháng rót vào lòng đầy hy vọng, tôm chết. Lúc đầu còn chết từng vuông, từng chòm, sau chết cả vạt đồng, cả xóm, cả vùng. Tôm chết như người ta trở một bàn tay. Lẹ ghê, ngủ một đêm sáng dậy thấy tôm lụi vô bờ, nằm dại khờ trên gờ đất, ngọn cỏ, ngọn rong. Vớt từng con tôm nhỏ bằng ngón tay út lên lòng rưng rức, đứt ruột. Tở phở hỏi nhau làm sao mà tôm nó chết vậy kìa ? Có ai làm gì nó đâu mà nó chết, mình quý nó còn hơn mạng mình nữa mà? Tôm chết rồi làm sao cứu đây ? Cho nó uống thuốc gì, chích thuốc gì ? Ý trời, Anh là cán bộ ngoài tỉnh vô làm vuông, bộ không biết sao ? Làm sao biết được. Bụng xót như xát muối, te tái chạy đầu trên đầu dưới hỏi nhau những câu ngớ ngẩn mắc cười.

Tôm chết rồi, cũng hệt như bà con ở xứ mình, ba má con mới biết mình hỏng nặng về kỷ thuật. Lăn lộn cuộc đời nông dân ngót năm mươi năm không có chút kinh nghiệm nào có thể đem vào chuyện này, má con nằm gác tay trên trán, thở dài, rút ra kết luận. Má tá hỏa khi biết hầu hết tôm giống trên thị trường không hề được kiểm dịch, đúng quy trình phải quăng cả trăm ký vôi bột mà mình xài có hai ba chục ký… Báo chí than bà con mình thiếu thông tin, thiếu hiểu biết rầm trời, các chú “ở trên” nhằn, bà con mình nóng vội quá. Nhưng bà con họ chờ bao lâu rồi hở bác, lâu quá là lâu rồi, từ đời cày cấy này qua đời trồng tỉa khác, họ kỳ vọng cái ngày vươn lên. Tôm chết, giống như một luồng nước lạnh tạt vào ngọn lửa trong lòng của mỗi người. Nhưng ngọn lửa ấy không tàn lụi, nó vẫn rạo rực cao ngọn từ tro ướt. Đã tắt hy vọng đổi đời từ cây lúa, người ta chờ đợi những mùa tôm.

Ba má con chắc là bị “sốc”, bác cũng biết, gì thì má con làm ruộng cũng giỏi có tiếng tăm mà. Bà cảm thấy buồn lắm. Hai ông bà gầy rộc, sọp người đi. Ba con thôi làm thơ. Con không biết tại sao. Con vẫn thầm mong ba làm thơ lại. Trời đất ơi, bây giờ ba mà làm thơ được chắc là hay lắm. Những bài thơ không chỉ có tình yêu nam nữ, không chỉ có bức bách đời thường, mà nó còn mang nặng những niềm vui nỗi buồn lớn lao, đông đúc của người nông dân.

Ba con kể chuyện vui. Ba nói có chú nào ở đầu kinh dưới hồi thả tôm tới giờ không thấy nó nổi lên chơi chơi như bầy cá mẹ ròng ròng hay cá chép, cá mè, dượng vái đất nước ông bà cho chú thấy bầy tôm, cúng gì chú cũng chịu. Ai dè, bầy tôm nổi thiệt, nhưng mà lúc nó nổi lên tức là đã nhiễm bệnh rồi, và tôm chết đỏ đầm. Chú mới vái lại, ông bà phò hộ dùm con, khỏi thấy cũng được. Ông bà nào phò hộ nổi hả bác ? Trước những hiểu biết mịt mờ về con tôm, người nông dân cũng biết mếu máo cười mình.

Ba con nói chuyện vui. Ba nói nuôi tôm trước sau gì cũng giàu, hỏng giàu cái nầy mình giàu cái khác. Chẳng hạn như không có tôm thì mình múc nước dưới đầm lên nấu lại thành muối, muối bây giờ bán cũng có tiền lắm chớ, giỡn sao. Nghe cứ buồn cười không chịu được, đau lòng không chịu được.

Tôm lại thử lòng chịu đựng của nông dân, tụi nó mở đợt chết thêm vài ba đợt nữa. Đó là lý do tại sao lúc bác hỏi ba con giờ giàu chưa, con phì cười. Đợt tôm đầu, bán lai rai lấy lại được chút vốn mua con giống, ba má con đã là quán quân xóm kinh rồi. Má con bắt tép bạc lấy tiền mua đồ ăn mắm muối. Má nói, làm gì làm cũng đừng đụng vô mớ tiền bán tôm, đó là tiền gối đầu cho vụ sau, mùa sau. Bác cũng biết tài tháo vát của má con hồi chiến tranh, bây giờ cũng vậy. Má định ra kế hoạch sản xuất, má đi học hỏi kinh nghiệm của những người nuôi tôm đi trước. Má luôn luôn vực cả nhà khỏi chán nản, tuyệt vọng. Má con có nhiều “bài” lắm, má nói tổ tiên họ Mạc của má linh thiêng lắm, hỏng lẽ nào ông bà để mình khổ hoài, má nói, một ký tép bạc, tép đất cũng ăn đứt giạ lúa theo giá bây giờ. Với ba, để thắp hy vọng như ngọn đèn không tắt, má nói về tụi con.

Con bắt đầu biết vì lẽ gì mà ông bà dầm dãi. Không có cái gì riêng cho ba má con đâu, bác à, như bác, như hàng vạn người cha, người mẹ khác vậy thôi một lòng lo cho đám con. Nên có hai người già trên đồng trống hốc, gió giật mái chòi. Nắng đỏ ngầu. Mưa trắng xóa. Bà tóc bạc như nhuộm ở tuổi 50, sáng sáng xách nhúm tép đất ra đầu kinh xáng bán rồi về ngoài nhà, bơi vài xuồng gạo bỏ mối có, bán lẻ có. Chiều vô vuông đặt lú, nấu cơm. Ông già gầy gò, đen đúa mỗi tháng một lần về họp chi bộ, sẵn thăm nhà luôn. Thời gian còn lại lặn ngụp dưới ao đầm, vớt rong, trồng cỏ, vét bùn, đắp bờ. Sáng sáng, chiều chiều, đi xách nước ngọt bên kinh, hai tay lặc lè hai thùng qua cầu khỉ. Không ti vi, không sách báo, chỉ cái đài con con. Có họp hành gì người ta mời ba, má đốc ba đi, ba nói “Chân tui đóng phèn quá bà à”, má năn nỉ, “ông mà chịu đi tui cạo bớt cho”. Đêm, người canh chòi trên, người chèo queo chòi dưới. May mà còn những giấc ngủ nhọc nhằn sau khi đã trằn trọc thỏa thuê. “Thượng đế ban cho chúng ta hy vọng và giấc ngủ để đền bù cho những nỗi lo lắng của cuộc đời”.

Mà, bác đừng nghe con kể lể rồi thương xót ba con, rồi nghĩ “tội nghiệp, cái thằng hồi đó làm cán bộ oanh liệt vậy mà bây giờ sống khổ quá (nói cho văn vẻ chớ có oanh liệt khỉ khô gì)”. Nếu có thương xin bác thương nhiều bà con khác, họ nghèo, chan chát chỉ chờ có con tôm, tôm càng chết nhiều, họ càng khổ. Má con còn ở nhà mảnh ruộng lúa đang xanh, còn cái quán nhỏ bán buôn cám gạo sống cũng được. Ba con thì giàu lắm, giàu gió giàu trăng, giàu bạn bè. Cái chòi lá của ba con vô cửa phải cúi người vậy mà không lúc nào ngớt khách. Bà con ở xóm kinh đi qua ghé uống ly trà, đi lại ghé ăn miếng bánh. Không có thông tin báo chí ba thôi buồn lòng vì vụ tham nhũng này, vụ tiêu cực kia, thôi buồn vì nhìn thấy cảnh gay mắt, chướng tai. Đôi lúc người ta thèm sống một cuộc sống như thế. Thèm sống với những lo lắng, ước mơ rất thường tình. Thèm ngồi trong một căn chòi thấp sũng nhưng đầy gió, vây quanh ly trà đượm khói, những người nông dân áo phèn, nước rõ long tong từ ống quần đầy bùn đất, nghe trên đài tiếng nói Việt Nam đang tường thuật trực tiếp trận bóng đá chung kết cúp quốc gia mà tức mình, “vụ tôm này mà suôn sẻ, thu hoạch xong, tui chạy ra chợ rinh liền cái ti vi tổ chảng về xúm lại coi cho đã”. Nhắc tôm là rôm rả chuyện con tôm, chuyện kỷ thuật mới, chuyện con nước, con giống, chuyện sáng nay giá tôm sụt mất năm ngàn đồng một ký. Má con góp chuyện “Chỉ sợ tôm nhiều, giá cả đi vô con đường rẻ bèo như giá lúa, lúa ế mình còn để ăn được, chớ mấy ông “ở trển” lo không nổi đầu ra cho tôm, để dồn đống đó ăn ngán chịu gì thấu”.

Má và con tin rằng, dù lần lữa rồi thì những mùa tôm sẽ tới, bác à. Nó sẽ tới để thay đổi số phận, cuộc đời mỗi người, nó tới để đỉnh đạc báo rằng, chủ trương của nhà nước mình là đúng đắn, rằng cổ tích ngày xưa là có thật. Những con người lam lũ cực nhọc cả đời xứng đáng được trả công.

Hồi nhỏ tới giờ con được dạy là phải biết hy vọng, lạc quan nhìn cuộc đời, bác à.

St

Trong đám bạn nhỏ cùng xóm, lớn lên tản mác, chỉ nó là người đi xa nhất, cách núi sông đã đành, lại còn cách biển, bên nầy bên đó không thể cùng lúc ngắm mặt trời lên. Lâu lắm nó mới về, nó bảo, bây giờ xứ mình cái gì cũng khác, nhờ có tình bạn tụi mầy mà tao còn biết đường về, nhờ một thứ nữa là cái tiệm tạp hoá của dì Hai, may, cứ nhìn tiệm đó mà tao không lạc.

Lối sống văn minh không làm nó quên tiếng “tiệm” ngày xưa, ngày mà cả nó và tôi còn nhỏ xíu, ngày nào má nó cũng kêu thằng Út ơi, thằng Út à, chạy lại đằng tiệm mua giùm má ít đồ. Buổi sáng chạy ra mua tương mua củi về nấu bữa cơm sớm cho má nó lót lòng đi làm phụ hồ, ba đi đạp xích lô, trưa cả hai người về, cho đỡ mệt. Chiều xách chai mua dầu về thắp đèn, bữa nào ba nó vui, muốn nhâm nhi với mấy ông bạn, nó đong thêm xị rượu. Nó biết đi tiệm mua đồ từ lúc còn chưa biết mặt của mấy tờ giấy bạc, ở nhà đưa tiền, nó chạy lại xòe tay ra mấy tờ bạc bèo nhèo đưa dì Hai, “má con dặn mua hết bi nhiêu đồng muối”. Dặn mua ít món còn nhớ, dặn nhiều nó phải vừa đi vừa nhẩm, gặp cái chạc cây, vấp ngã, quên mất, lại phải mếu máo chạy về hỏi lại. Ở nhà sai biểu cái gì còn mê chơi, dùng dằng chứ bảo đi tiệm là nó te tái đi ngay, mua món đồ còn dư một vài trăm, thể nào dì Hai cũng thối lại bằng mấy cục kẹo chanh, kẹo dừa xanh xanh đỏ đỏ, ngọt dai dẳng cả một tuổi thơ của đám con nhà nghèo.

Tiệm tạp hóa của dì Hai cất dựa mé sông, nhà nhỏ, hàng hoá chất đầy ra lối đi, treo lùm đùm líu đíu không thấy được đầu người. Nhỏ vậy, chật chội vậy mà dường như hỏi món gì cũng có, gạo củi mắm muối thì nói gì, tiệm có cả những thứ năm thì mười họa mới bán được một lần. Chen chúc nhau những kệ cao kệ thấp, thùng nhỏ, thùng to, hủ sành, hủ mủ… không có cái thứ tự nào cho món lớn nhất như sịa nia thúng mủng, nhỏ nhất như cục đá lửa, cái dao lam… Bạn tôi nói với tôi rằng, mười mấy năm qua, mỗi lần bước vào những siêu thị hàng hóa bày bán hào nhoáng, nó vẫn thường nhớ tới tiệm của dì Hai, nó nói có một cái gì đó đầy sự sống, ấm áp trong cái quán bề hộn, hỗn độn của dì. Nên nhớ nhiều lắm. Nhớ đùm cốm gạo treo trên vách, mấy cái keo đựng bánh kẹp, bánh men, cái diệm đựng củ cải muối để kế bên rổ hột vịt, ở góc nhà là thạp đường mía vàng ong óng, một lần nó lén lấy tay mút thử, dì Hai rầy, “cái thằng sao ở dơ ở dáy vậy con, sao không nói để dì lấy dao xắn cho”. Nó còn nhớ nắp đậy trên cái lon đựng tiền lẻ của dì lúc nào cũng dính dâm dấp bột gạo, bội củ năng. Qua bao nhiêu năm rồi, nó vẫn thắc mắc, tự hỏi, làm sao dì nhớ rành vị trí từng thứ hàng hoá trong tiệm của mình, để người ta hỏi cái gì, dì lẹ làng, phăm phăm lôi ra ngay thứ ấy, mà từ cái chỗ đôi khi ta không ngờ tới. Tôi cười, với dì, cái tiệm đó có một trật tự riêng, tụi mình không biết được đâu.

Bởi dì đã mở tiệm hàng này từ lúc chúng tôi chưa được sinh ra. Có vài ba cái tiệm như thế cho xóm lao động nghèo nhưng không có cái nào lâu đời như tiệm của dì. Mỗi gia đình trong xóm nhỏ nầy, ai đi ai đến dì rành hết thảy. Buôn bán lâu năm dì còn thuộc nết ăn, xài từng nhà. Như cậu Ba chỉ thích ăn bí hầm dừa với đường mía, vừa ngọt dừa thanh, dì Chín mê món cháo trắng ăn với cải xá bấu, sáng nào cũng nấu, nhà mợ Bảy thích xài xà bông bột hơn loại kem… Với cư dân trong xóm, khi đã vượt qua được đận cơm ngày hai bữa thiếu trước hụt sau, ai cũng tự hỏi, hồi đó sống sao được nếu vắng những tiệm buôn bán lẻ trong xóm mình ha. Làm ngày nào đủ chi ngay ẩy, đủ hai ký gạo, hai trăm đồng muối, năm trăm đồng đường, với bột ngọt, tương, chao… lắt nhắt, vụn vặt, không người bán biết mua ở đâu. Rồi mấy đứa con gái đểnh đoảng như tôi vất vả biết chừng nào, đôi khi không lấy được chồng chứ hỏng phải chuyện chơi, vì lâu lâu vô bếp một lần, đang nấu canh, kho cá, tá hỏa lên trong nhà hết đường hết muối, sai đứa con nít chạy lẹ ra tiệm mua về nêm vẫn kịp, thiệt hú hồn, may quá. Lớn lên, xa nhà, đi rày đây mai đó, nhớ về xóm cũ, từng cái cây ngọn cỏ, còn đường dường như mỗi thứ đã trở thành một phần đời… Cả cái tiệm tạp hóa bình dị, mộc mạc của người đàn bà goá chồng hiền hậu mà cả đời chẳng đứa nào quên tên gọi: dì Hai.

Nó lại thăm, dì Hai than lúc nầy già cả rồi, con mắt ngó không thấy đường, đêm nào cũng nghe đau nhức mình mẩy. Dì nắn bóp tay nó (cái bàn tay chuyên môn lén quẹt đường mía ăn), khen lúc nầy con lớn quá, mập ra. Nó cười, thì mười mấy năm rồi còn gì, xóm xưa trở thành phố thị, hàng quán tíu tít mọc lên. Mọi thứ đã đổi rồi, sao dì với tiệm của dì không thay đổi gì hết vậy? Dì Hai cười, nếu cái gì cũng đổi hết thì bây biết đường đâu mà về.

Tôi thấy chút xíu nữa nó đã rơi nước mắt. Nó nén lòng, mếu máo cười, bảo, “Lâu quá, hỏng ăn kẹo của tiệm dì hai, dì bán cho con năm trăm kẹo đi, dì!”. Dì cười, “Cái thằng, buôn bán gì, lâu lâu con mới về, dì đãi'”, rồi dì lụm cụm lấy cho nó một vốc kẹo dừa.

Hồi xưa nó cũng mê chỉ mỗi món kẹo dừa, mê tới mức cả hàm răng sún hết trọi.

St

Mầy còn nhớ không ? Hồi tụi mình còn nhỏ, thời tiểu học, có ngày nào mà tụi mình không đùng xuống con rạch trước nhà để tắm. Mầy còn nhớ con rạch đó không? Nó có cái tên cục mịch và quê mùa : rạch ” Cồn Cỏ “. Người ta gọi như vậy bởi vì ở phía sông cái có một cái cồn khá lớn Ợ gần như là một cái cù lao Ợ làm tách con rạch ra làm hai nhánh. Có lẽ hồi xưa, trên cồn chỉ có cỏ nên họ gọi là ” Cồn Cỏ “, chớ hồi thời tụi mình, trên đó thấy đầy cây cối mà một số là cây ổi ” chim ăn ” và cây xoài hột. Mầy bỏ xứ ra đi lâu quá, không biết còn nhớ ” ổi chim ăn ” và xoài hột không ? “Ổi chim ăn” là loại ổi nhỏ bằng trứng chim cút, bên trong toàn hột là hột nên không có ai trồng. Chim hay mổ ăn mấy trái chín, còn tha đi chỗ này chỗ nọ. Hột ổi rớt mọc lên cây, nhà vườn chặt bỏ để lấy đất trồng thứ khác. Còn ” xoài hột ” thì như tên của nó nói : trái nhỏ bằng nắm tay con nít, bên trong chỉ có cái hột lớn với chút xỉu cơm ! Người ta cũng gọi là ” xoài mút ” bởi vì muốn ăn loại xoài đó phải lựa trái chín muồi, lột võ rồi mút cái hột với lớp cơm mỏng dánh dính chung quanh. Người lớn không ai thèm ăn bởi vì ăn không đã miệng mà mút xong một trái là hai bàn tay dơ hầy ! Chỉ có con nít là khoái ! Cho nên vào mùa xoài Ợ cũng là mùa mưa Ợ khi thấy trời nổi gió, trẻ con thường lội qua cồn để lượm xoài, được trái nào là đứng ngay dưới cây xoài mút lia mút lịa. Tao nhớ có lần mầy với tao cởi quần đội lên đầu rồi lội qua cồn cỏ lượm xoài. Mầy nhớ không ? Mình phải đội quần để quần xà lỏn đừng bị ướt bởi vì tụi mình ” lội chó ” đầu lòi ra khỏi nước. Mới nút được có mấy trái thì trời mưa ụp xuống làm hai đứa ướt ngoi. Lần đó về nhà tao bị bắt quì gối gần nửa tiếng. Tao tưởng mày là cháu đích tôn của ông Cả, được cưng nhứt nhà không ai dám rớ. Té ra hôm sau đi học, mầy kể lại mầy cũng bị ông nội mầy bắt quì cũng như tao ! Mầy coi ! Cái xã hội của mình hồi đó nó tốt như vậy. Quan quyền hay dân dã gì cũng dạy con dạy cháu na ná như nhau hết.

Trở lại với con rạch của tụi mình. Con rạch cong cong quanh quanh chạy tuốt vô xóm chợ, chui qua cây cầu đúc của con lộ cái rồi đi mất hút ra ruộng và rừng tràm. Hai bên bờ rạch là hai con đường đất dùng cho người đi bộ và xe đạp. Nhà cửa cất dài theo hai con đường đất. Mỗi nhà nằm trong một khu vườn đầy cây ăn trái và hoa kiểng. Hai bờ, lâu lâu, được nối với nhau bằng một cây cầu khỉ. Mỗi cây cầu khỉ đều có một cái tên : cầu cây gừa ( vì nó nằm cạnh cây gừa ), cầu cây trôm ( cạnh cây trôm ), cầu bà Sáu Lộc ( nằm trước nhà bà Sáu Lộc, chớ không phải bả dựng cây cầu đó !), cầu ván ( làm bằng hai tấm ván thay vì hai cây tre ) v.v&Tía tao nói về sau, ông nội mày bỏ tiền ra xây một cây cầu đúc, giúp cho dân chúng đi lại dễ dàng. Mầy nhớ cái cầu đúc nằm ở xóm chợ không ? Ðó, cái cầu đó, đó ! Người ta gọi là ” cầu ông Cả “. Không biết mầy có biết rằng ông nội mầy hồi đó được dân chúng thương lắm không ? Tía tao nói rằng ổng thôi làm ” Cả ” từ thời Tây lận, nhưng dân trong vùng vẫn gọi ổng là ” ông Cả “. Hồi trào Việt Minh, ông nội của mầy là người chức sắc cũ duy nhứt không bị cho đi ” mò tôm “. Ðể thấy ổng ăn ở có nhơn biết chừng nào.

Nói đến cầu khỉ, tao nhớ hoài chuyện bà Năm Chiện té rạch. Bả té đâu hồi tụi mình chưa sanh. Lớn lên nghe kể lại mà bắt tức cười. Mầy biết không ? Hồi xưa, rạch Cồn Cỏ chỉ có loại cầu khỉ ” một cây tre “, trơn trợt khó đi ( Về sau, dân chúng cặp thêm một cây tre như tụi mình đã thấy ) Một hôm bà Năm Chiện đi tới giữa cầu, hụt chân té xuống rạch. Người ta nghe tiếng bà Năm la chói lói :” Bớ làng xóm ! Bớ làng xóm !” Rồi giọng bả bỗng thấp xuống :” Ủa mà cạn !” Thì ra bả không biết lội, hồi té là la làng kêu cứu, chừng coi lại thấy nước mới tới lưng quần, bả té nhằm nước ròng. Bà con lối xóm nghe la, chạy ra thì thấy bà Năm Chiện lóp ngóp bò lên bờ rạch, miệng cười lỏn lẻn mắc cỡ ! Chuyện này về sau khi tao đi làm việc ở Sàigòn, tao có nghe kể nhiều lần. Họ kể ” có bà đó ” chớ không nói là bà Năm Chiện, và họ kể như là chuyện tiếu lâm đặt ra để cười chơi. Ðâu có ai biết là chuyện tiếu lâm đó xuất xứ từ con rạch Cồn Cỏ của quê mình !

Ở làng Nhơn Hoà Cồn Cỏ, trẻ con chia ra thành bọn để đi chơi với nhau. Bọn mình có ba đứa : thằng Ðực Nhỏ, mầy, tao. Mầy còn nhớ thằng Ðực Nhỏ không ? Cái thằng học dở ẹc, tánh tình thì ngổ ngáo, học chung với tụi mình nhưng lớn hơn tụi mình tới ba tuổi. Vậy mà chơi với bạn, nó tốt vô cùng. Có cái gì ăn nó cũng chia và nó hay bầy đặt trò chơi này trò chơi nọ. Nó lúc nào cũng ra vẻ đàn anh bảo vệ mầy với tao. Nó nói với bọn trẻ khác :” Thằng Cương, thằng Lân là bạn của tao, đứa nào đụng vô là biết !”. Mầy có biết nó nói với tao làm sao không ? Nó nói : “Thằng Cương hiền khô nhát hít . Nó là cháu ông Cả chớ tụi xóm Chợ đâu có coi ra gì. Tụi nó không nể nang ai hết, bắt nạt được là tụi nó bắt nạt. Tao phải dằn mặt tụi nó trước như vậy “. Rồi nó nhìn tao :” Còn mầy thì tao khỏi lo “. Nó biết rằng tao cũng không vừa gì !

Không biết mầy còn nhớ vụ bọn mình đi ăn cắp tôm không ? Bọn mình ở xóm Cồn, gần sông cái, nên biết mặt gần hết mấy ông thợ câu. Một bữa nọ thằng Ðực Nhỏ hỏi :” Tụi bây muốn ăn tôm nướng không ? “. Tụi mình hỏi lại :” Tôm ở đâu mà nướng ? Mầy câu hả ?”. Nó nói :” Muốn ăn thì đi theo tao “. Nó dẫn tụi mình ra ngoài vàm, chỉ tay ra đó :” Tôm cả đống ở ngoải “. Tụi mình nói nó xí gạt nên vừa ” xì ” một tiếng vừa quay trở vô định về. Nó níu lại : ” Thiệt mà ! Ông Hai Sầm câu tôm ổng rộng tôm ngoài đó đó “. Rồi nó giải nghĩa :” Tao thấy ổng đi câu về là ổng thả cái rọ tôm có treo cục đá xuống sông. Cái rọ có sợi dây dính vô khúc củi nổi trên mặt nước để làm dấu. Tụi bây dòm coi “. Nước đang ròng. Cách bờ độ ba thước có khúc củi nhỏ lắc lư lắc lư như muốn trôi mà bị cái gì rị lại phía dưới. Mầy nói :” Tôm của người ta, ăn cắp chúng bắt chết “. Nó cười :” Mình lặn xuống xin mỗi đứa một con ăn chơi. Ăn nhầm gì ? Chừng nào rinh hết cái rọ của ổng mới là ăn cắp chớ !”. Ba đứa dợm bước xuống sông để lội ra đó thì tao khựng lại :” Không được ! Phải có một thằng đứng canh. Rủi có người thấy tưởng tụi mình ăn cắp cái rọ thì khổ “. Vậy là mầy được chỉ định đứng canh trên bờ. Tao lại nghĩ lại :” Không được ! Nước ròng chảy mạnh, ba con tôm, tay nào cầm tay nào lội ? “. Thằng Ðực Nhỏ ” Ờ ” rồi ngồi bẹp xuống như cái bong bóng xì. Bỗng nó đứng phắt lên chỉ vào cái quần dài bằng vải đen nó đang mặc :” Tao cột túm ống quần lại, mình bỏ tôm vô quần rồi lội vô !”. Rồi nó vừa cười ha hả vừa chạy lại mấy cây chuối hoang gần đó tét mấy sợi dây thân chuối cột ống quần. Mầy nói : “Mẹ ! Coi chừng càng tôm nó kẹp cho thấy bà !”. Ðực Nhỏ vừa nói vừa ra dấu :” Mình bẻ càng nó !”. Tao chen vô :” Ờ&mà còn cái răng cưa trên đầu nó nữa “. Nó dứt khoát :” Thì cũng bẻ luôn !”. Vậy là hai đứa tao đùng xuống sông, lội ra khúc củi, mò theo sợi dây lặn xuống. Như đã giao hẹn hồi lội ra, tao lãnh phần bắt tôm, nó lãnh phần bẻ càng bẻ răng cưa rồi “nhốt ” vô quần. Ðang làm tới con tôm thứ hai thì bỗng thằng Ðực Nhỏ trồi lên mặt nước la làng chói lói. Tao hết hồn nắm đầu nó vừa lội vừa kéo vô bờ. Nó vùng vẫy như điên, hất tay tao ra rồi chìm xuống nước. Trên bờ, mầy nhớ không , mầy vừa nhảy đông đổng , vừa la :” Chết cha ! Thằng Ðực Nhỏ bị ma da rút rồi ! Chết cha !”. Vô tới bờ, tao chưa biết phải làm sao thì thằng Ðực Nhỏ trồi đầu lên, mặt mài nhăn nhó, vừa lội vô vừa rên :” Ðau thấy mẹ ! Trời ơi ! Rát thấy mẹ !”. Chừng nó đứng lên mới thấy cái quần nó tuột xuống hai ống chân, còn hai bên bắp vế của nó thì máu me tùm lum như bị đâm bị cắt. Nó nói như mếu :” Mẹ bà nó ! Mình quên con tôm còn có cái đót giấu ở dưới đuôi nữa ! Nó búng đuôi chém tao đau thấy ba bốn ông Trời ! Tao phải lặn xuống cởi quần cho nó phóng ra sông !”. Thằng Ðực Nhỏ vừa nói vừa khoát nước rửa máu chừng đó mới thấy cái đùm giữa của nó còn nguyên chỉ bị thương ở đùi. Hú vía ! Thằng Ðực Nhỏ sau này đi lính đánh giặc rồi chết trận ở Kontum. Nó chưa vợ chưa con, cũng may cho nó.

Trở về với con rạch của tụi mình. Trẻ con đi học về là nhảy ùm xuống tắm. Người lớn còn đợi nước lớn mới tắm chớ con nít thì nước lớn nước ròng gì cũng tắm được hết, bởi vì tắm lội là một trò chơi. Nhắc đến vụ tắm rạch, tao còn nhớ tới chuyện này. Chắc, tao nghĩ, mầy cũng còn nhớ. Hôm đó, mầy bận cái quần xà lỏn mới tinh của má mầy vừa may cho. Mầy sợ quần ướt nên cởi quần vắt lên cây gừa, ở truồng nhào xuống lội. Hồi thời tuổi nhỏ, tụi mình tắm ở truồng là thường. Tắm giỡn đã rồi leo lên bờ thì đứa nào đã ăn cắp cái quần mới. Mầy mếu máo khóc, tao phải qua nhà tao lấy cái quần cho mầy mượn mà mặc đi về. Hôm sau đi học, mặt mầy buồn xo. Mầy trật đít ra cho tao coi hai lằn roi đỏ ửng ! Vụ đi tắm mất quần đó, chắc mầy còn nhớ mà ! Cho dù đã mấy chục năm, hai lằn roi đó làm sao quên được ?

Vậy mà đã mấy chục năm ! Tụi mình xa lần con rạch Cồn Cỏ từ hồi lên tỉnh học trung học. Rồi xa luôn từ ngày mầy đi Tây, còn với tao thì kể cũng gần như xa luôn từ ngày tao đi lính. Mầy không biết chớ hồi tao đi lính, tao đánh giặc lì lắm. Bạn đồng đội nói tao là :” Thằng Lân ăn pháo, chỗ nào Việt Cộng bắn rát là có nó lăn tới “. Rồi tụi nó đặt cho tao cái hỗn danh ” Lân pháo “, hỗn danh này tao mang tới ngày mất nước. Suốt cuộc đời nhà binh của tao, tao đánh giặc không biết bao nhiêu trận, có vào sanh ra tử, có thắng có thua&nhưng không hiểu sao tao chưa hề bị thương một lần ! Vậy mà hôm tao phải liệng súng đầu hàng vào cuối tháng tư 75 , tao nghe đau điếng như vừa lãnh một viên đạn. Lần đó, tao không đánh giặc vậy mà tao lại bị thương , bị thương ở trong lòng. Vết thương đó, bây giờ, gần hai mươi năm sau, vẫn chưa chịu lành. Mầy thấy không ? Kể lại cho mầy nghe mà tao vẫn còn rơm rớm nước mắt.

Bên vợ tao có cơ sở làm ăn ở Marseille. Nhờ vậy, tao mới qua Pháp theo diện đoàn tụ gia đình bên vợ. Mầy thấy không ? Cuối cùng rồi tao cũng được đi Tây như ai ! Trước khi đi, tao có về thăm Cồn Cỏ. Con rạch nhỏ bây giờ nó rộng huỵch, tại vì ghe thuyền bây giờ toàn chạy máy nên sóng đập lở bờ. Cầu khỉ được thay bằng cầu ván. Cầu Ông Cả gãy hết một chân lòi cốt sắt rỉ sét. Người ta nói hồi mới vô, mấy cha Việt Cộng thách đố nhau bắn chơi ! Cái cồn đã được một ông lớn nào đó chiếm ngụ. Ổng xây bờ kè, xây tường rào kiên cố, phía sông có cầu tàu, nhà thủy tạ, bên trong là nhà lầu kiểu cọ theo điệu Tàu. Bây giờ mầy có về mầy nhìn không ra đâu ! Người cũ chết bớt, đi bớt. Người mới, phần đông là dân cách mạng tụi mình không quen, về cất nhà lầu dài theo rạch. Tao có đến thăm con Huê, cái con nhỏ má lúm đồng tiền học chung với tụi mình đến hết lớp nhứt, đó, rồi về sau nó bán vải ở chợ nhà lồng , có năm đó trong dịp Tết nó tặng mầy một cái mu-soa thêu trước khi mầy đi Tây, mầy nhớ hôn ? Con nhỏ đó, đó ! Bây giờ nó vẫn bán vải, vẫn chưa có chồng , coi hơi già hơn tao một chút nhưng vẫn còn có duyên. Nó với tao nhắc không biết bao nhiêu chuyện cũ, để lâu lâu thở dài&Khi con Huê tiễn tao ra đến cổng , nó đứng ngập ngừng một chút rồi bỗng nói một mạch lè lẹ như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ : ” Anh qua bên Tây, có gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh “. Nói rồi nó bỏ chạy vội vào trong , tao thấy nó đưa tay lên quẹt mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê, nói với tao cách đó khá lâu hồi tao gặp nó bán vải ở chợ An Ðông :” Anh Lân biết không ? Chị Huê thương anh Cương từ hồi còn học lớp nhứt lận !”. Nó vừa nói vừa cười, tao tưởng nó nói chơi, té ra nó nói thiệt. Tao kể lại chuyện con Huê cho mày nghe, tao biết mày không làm gì được, nhưng tao vẫn kể. Ðể cho mầy thấy người con gái ở dưới quê mình nó thật thà trung hậu đến mức độ mà khi đã trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là sự tự nhiên. Cũng như, hễ đã là con rạch thì tự nhiên phải có nước lớn nước ròng.

Hồi hôm, coi télé chương trình văn nghệ đài TF1, nghe hát bài ” Dòng sông tuổi thơ “, tao bỗng nhớ tới con rạch nhỏ quê mình. Rồi tao nhớ mầy.
Cương ơi ! Bây giờ mầy ở đâu ?

St

Sau trận Tết Mậu Thân (1968) ở Huế, gia đình ông thầy thuốc Nam đó chết hết, chỉ còn lại có hai cha con. Nhà cửa tiêu tan, sự nghiệp tiêu tan, thầy không muốn ở lại cái vùng đất mà thầy cho là còn gần với quân xâm lăng miền Bắc. Thầy gạt nước mắt, dẫn thằng con trong tuổi quân dịch đi vô Nam. Thầy nói: “Ở trong nớ tuy tứ cố vô thân nhưng chắc chắn là mình được yên ổn lâu dài”.

Trên chuyến xe vào Sài Gòn, ông bắt chuyện với một sư ông lên xe ở trạm Nha Trang. Thì ra sư ông cũng là thầy thuốc Nam nữa. Nhờ vậy, tâm sự được dàn trải dễ dàng. Sư ông trụ trì ở chùa Thiền Lâm Gia Định, vừa làm Phật sự vừa bắt mạch vừa bốc thuốc. Sư ông nói:

– Tôi làm không xuể.

– Bịnh nhân có đông không ?

– Tùy mùa. Nói chung chung thì cũng nhiều. Với tôi, Phật sự là chánh, còn chữa bịnh là phụ. Vì không đủ thời giờ nên tôi đành từ chối bịnh nhân… Thấy cũng tội nghiệp !

Khi sư ông biết tình cảnh của cha con ông thầy thuốc Nam, sư đề nghị:

– Nếu ông anh không chê thì tôi xin mời ông anh về tá túc với chúng tôi. Mình sẽ phụ nhau chữa bịnh cho đồng bào thì thật là hoan hỉ.

Trong cảnh “tứ cố vô thân”, đề nghị của sư ông như một cái phao. Ông thầy nhận lời và cám ơn rối rít. Sư ông nói:

– Đời sống trong chùa đạm bạc như thế nào chắc ông anh cũng đoán biết, không cần phải giải bày. Duy chỉ có điều này là cần nói rõ: bịnh nhân đến chùa phần đông là đồng bào nghèo, màchùa thì không có khả năng tài chánh để chữa thí, vì vậy, mình chỉ lấy tiền thuốc thôi.

– Ngoài nớ, gặp bịnh nhân nghèo, tôi cũng làm như rứa. Đôi khi còn không lấy tiền.

– A di đà Phật.

… Chùa Thiền Lâm nằm giữa một nghĩa trang vây quanh bởi một bức tường rào xây bằng gạch bờ-lóc không có tô và cũng không quét vôi. Nhiều nơi tường bị nứt dài, gạch bể lỗ đỗ. Dọc theo mặt tiền là mấy “tiệm” hớt tóc (Không biết gọi là gì cho đúng. Mấy anh thợ hớt tóc, trước đây hớt tóc dạo, bây giờ… đóng đô ở đó bằng cách đóng lên tường mấy cây đinh rồi móc tấm ni-lông hay tấm vải trắng cỡ thước rưỡi bề ngang, có mấy cây trúc chống căng ra như một mái nhà. Bên dưới, đặt hai ghế đẩu – một cho khách, một cho thợ hớt tóc và trên tường treo ngang tầm mắt người ngồi ghế đẩu là tấm kiếng cỡ hai trang giấy lớn. Trên tường cũng có viết nguệch ngoạc bằng sơn dầu các kiểu tóc và giá cả. Chiều, họ gỡ hết đem đi. Sáng, họ trương lên, ngồi đánh cờ tướng với nhau hay hút thuốc rung đùi đợi khách !). Cổng vào nghĩa trang, bằng sắt rỉ sét xiêu vẹo, mang một bảng gỗ đã mục nhiều nơi, lớp sơn tróc rơi để lòi sớ gỗ, nhưng cũng còn vừa đọc vừa… đoán ra được hàng chữ: “Nghĩa trang Hội Tương tế X…”. Từ ngoài ngỏ chạy thẳng vô chùa là đường đất đỏ nằm giữa hai hàng cây điệp. Vây quanh chùa là mả thấp mả cao xếp hàng dài dài.

Chùa là một ngôi nhà cất theo kiểu xưa: nền cao, nóc bánh ích, cột kèo gỗ, ba gian hai chái, hàng ba thật rộng. Không có mái cong chạm rồng chạm phụng gì hết. Mới nhìn tưởng là nhàở chớ không phải chùa ! Biết là chùa nhờ có tấm bảng nằm dưới mái hiên: “Thiền Lâm Tự” ! Bên trong không có “năm ngăn bảy nắp đầy dẫy tượng Phật, tượng Bồ Tát sơn son thếp vàng” như mấy chùa nổi tiếng. Nhưng cũng có đầy đủ ngôi tam bảo với các vật dụng cần thiết để làm Phật sự. Ở đây, đúng là một cảnh chùa nghèo. Tuy nhiên, theo lời sư ông, những ngày rằm ngày vía, Phật tử đến cúng bái khá đông. Phần lớn là đồng bào ở trong vùng và những người không thích “chùa nhà giàu” chính họ nói như vậy.

Về chùa Thiền Lâm, sư ông phân công rõ rệt: sư ông và người đệ tử lo Phật sự và trông nom trong ngoài, còn cha con ông thầy thì lo phần chữa bịnh kể cả việc đi bổ thuốc. Cái chái phía bên phải xưa nay vẫn là phòng mạch, bây giờ giao hẳn cho ông thầy tự do sắp xếp. Cha con ông được cho một căn buồng ở hậu liêu, có cửa sổ nhìn ra vườn rau cải của chùa. Lâu lâu, có ai rước sư ông đi làm đám ở đâu thì cha con ông thầy lảnh phần đèn nhang cúng bái thường nhựt.

Ông thầy chữa bịnh mát tay nên bịnh nhân càng ngày càng đông. Thầy bắt mạch, rờ trán, xem lưỡi… rồi bốc thuốc gói từng thang bằng giấy báo. Khi trao thuốc lúc nào thầy cũng dặn: “Đổ vô năm chén nước, sắc còn một chén uống”. Thang nào của thầy cũng là năm chén nước và không thang nào là không đi kèm với câu dặn dò trên. Vì vậy, bịnh nhân và người trong vùng gọi ổng là”thầy năm chén”. Lâu ngày thành tên luôn, làm như thầy thứ Năm và tên Chén vậy ! Cho nên, về sau, khi nói chuyện với thầy, bịnh nhân gọi thầy bằng “thầy Năm” rất tự nhiên. Không thấy thầy ngạc nhiên hay cải chánh gì hết !

Thằng con thầy Năm Chén, tên Kiệt, thông minh học giỏi cần cù. Kiệt thi đậu vào trường kỹ thuật Cao Thắng. Mấy năm sau, chưa ra trường đã phải nhập ngũ, đi công binh. Lâu lâu được kỳ phép, về chùa giúp cha bổ thuốc bốc thuốc, giống như thời mới vào Nam với hy vọng “nơi ni mình sẽ được yên ổn lâu dài”… Vậy rồi có ngày 30 tháng tư 1975…

Hồi thời Tết Mậu Thân, thầy còn chạy vô Nam. Bây giờ, thầy không biết chạy đi đâu nữa. Thầy thở dài: “Đúng là cái số !”. Bản chất thầy hiền hòa mộc mạc như các vị thuốc Nam của thầy, cho nên sự miền Nam mất vào tay Cộng Sản, thầy nghĩ rất đơn giản: “Tại ông Trời ! Nhơn bất thắng Thiên, ông bà mình dạy như rứa. Khi ổng đã định, mần răng mà cãi được !”. Hồi xưa, thầy học “chữ thánh hiền” trước khi thầy học thuốc. Chữ thánh hiền đã cho thầy có cái nhìn rất khiêm tốn khi thầy chữa bịnh: “Chẳng qua là phước chủ may thầy…”. Bây giờ, sống trong nghĩa trang, ngày ngày nhìn mấy lô mả to mả nhỏ nằm im hàng hàng, thầy càng tin ở số mạng. Cái số thầy phải bỏ xứ để vô Nam, cái số thầy phải ở chùa bốc thuốc, rồi bây giờ cái số thầy “bị mất nước; sống mần răng với bọn Cộng Sản đây ? “. Nghĩ đến đó, thầy tự an ủi: “Chừ, mình sống giữa những người chết, chắc bọn nó để cho yên”.

Kiệt đi học tập mấy hôm rồi về chùa phụ sư ông quét dọn trong ngoài, bởi vì bên phòng mạch bịnh nhân cũng vắng. Làm như người ta lo sợ quá rồi…quên bịnh! Trái lại bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như bây giờ người ta chỉ còn biết… dựa vào Phật !

Thời gian sau, Kiệt tìm được việc làm ở Khánh Hội, trong một ga-ra nằm cạnh bờ sông, chuyên sửa máy xe hơi máy tàu. Thầy Năm Chén và sư ông lâu lâu đóng cửa phòng mạch, đóng cửa chùa để đi học tập chánh trị. Bởi vì “tư tưởng Mác Lê là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại”, phải thông suốt để về chùa làm Phật sự cho đúng… “tác phong cách mạng” và về phòng mạch kê toa bốc thuốc cho hợp với… “yêu cầu đấu tranh giai cấp” !

Một hôm, mấy cán bộ thành vào viếng nghĩa trang. Sau khi đi một vòng, họ khen… hai hàng phượng đẹp ! Cuối cùng, họ nói:

– Theo quy hoạch của thành phố, nơi này sẽ là công viên cây xanh, để đồng bào quanh vùng có nơi thư giãn. Việc bốc mộ sẽ có thông cáo. Mấy người được ở lại đây để trông chừng việc bốc mộ cho đến thời hạn ấn định trong thông cáo là phải dọn đi ngay. Rõ chứ ?

Sư ông làm thinh. Thầy Năm Chén cũng làm thinh. Nói cái gì bây giờ ? Đối với những người không biết luật pháp, đối với chế dộ không có luật pháp, thì nói “ừ” hay nói “không” cũng đều là vô nghĩa ! Bởi vì họ không chấp nhận sự đối thoại. Ngoài ra, họ kiêu căng đến mức độ có thể viết một câu tổ bố và lố lăng quá mức mà ai cũng thấy trên đường đi Bến Lức – câu này dân chúng chuyền miệng cho nhau nghe từ mấy tháng nay vàchính mắt thầy Năm Chén đã đọc khi đi bổ thuốc ở vùng đó – “Thằng trời đi chỗ khác chơi; Để cho Nông Hội tiến lên làm mùa”. Thì… còn lời gì để nói ?

Nhưng sự “làm thinh” của sư ông và thầy Năm Chén không phải chỉ đơn thuần ở chỗ “hết nước nói”, mà còn là cách để tỏ thái độ của hai ông: làm thinh là khinh miệt bọn chúng, những thằng không đáng để nói chuyện, những thằng mất gốc, tổ tiên không thờ đi thờ hai thằng tây mũi lõ Mác gì gì Lê gì gì đó không biết nữa. Sự làm thinh của hai ông – sự làm thinh của kẻ sĩ – có giá trị gấp mấy lần những lời thóa mạ chửi bới, vậy mà mấy cán bộ lại cho là”thành quả của giác ngộ cách mạng” !

Mấy hôm sau, thầy Năm Chén kéo thằng con ra góc nghĩa trang, thấp giọng nói:

– Cha có chuyện ni muốn nói với con. Nhưng con phải giữ kín.

– Dạ.

– Con nên tìm đường đi chui đi.

– Cha nói chi lạ rứa ?

– Không có chi lạ hết. Cha không muốn con ở lại xứ ni. Mình không còn đất đứng nữa, con à.

Nói đến đây, giọng thầy nghẹn lại. Thầy không nhìn con. Thầy nhìn ra mấy lô mả. Thầy chớp mắt thật nhanh để nước mắt đừng đọng thành giọt. Rồi thầy thở dài…

Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Rồi sẽ không còn được như vầy nữa, nay mai… Chế độ không để cho ai được yên, kể cả người chết !

Kiệt nhìn cha, bồi hồi. Con người đó xưa nay hiền hòa, an phận. Vậy mà bây giờ lấy một quyết định có tánh cách chống đối dầu là tiêu cực, chứng tỏ ông “chịu đựng hết nổi”.

– Nghèo như mình thì lấy vàng mô mà đi chui, cha ?

– Cha nghe nói có nhiều người làm việc trên tàu. Họ đi được.

– Nhưng đó là họ đi một mình. Đi đánh cá, gặp dịp là đi luôn.

– Thì cha cũng muốn con tìm cách làm như rứa. Con cũng một mình chớ mấy mình.

– Không ! Con còn có cha nữa.

– Đừng lo cho cha. Cha già rồi. Tương lai làc on, mô phải là cha.

– Gia đình mình chết hết, còn lại có hai cha con. Con đâu thể nào bỏ cha được, cha.

– Chính bởi vì cha chỉ còn lại có mình con mà cha muốn con phải đi khỏi xứ ni. Cha không muốn thấy con làm tôi mọi cho một lũ ngu dốt. Cha muốn thấy con được sống trong một xứ tự do. Có nghèo cũng nghèo trong tự do. Mà rủi có… rủi có chết cũng chết trong tự do,con à.

Đến đây thì Kiệt không dám nhìn cha, bởi vì gương mặt héo hon đó vừa nhăn nhúm lại như một miếng cau khô. Lòng quặn thắt, Kiệt nhìn đi nơi khác.

Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Đằng kia, hai hàng phượng trổ bông đỏ ối. Màu đỏ trong nghĩa trang, xem vừa lạc lõng vừa vô duyên, không hợp tình hợp cảnh chút nào. Vậy mà bao lâu nay Kiệt không hề để ý. Làm như phải lâm vào một nghịch cảnh, người ta mới nhìn thấy rõ những nghịch cảnh chung quanh ! Bây giờ thì đến phiên Kiệt thở dài…

Từ ngày có thông cáo dán trên cổng nghĩa trang, đồng bào tới lui chùa nườm nượp. Làm như thiên hạ muốn gần Phật thường hơn, đều đặn hơn, lâu hơn… trong những ngày những tháng còn lại này. Bởi vì Phật sẽ không còn được ở đây nữa, mặc dầu – theo lời ông già bàcả trong xóm – Phật đã được an vị ở chùa này gần ba mươi năm, hồi thời chưa có nghĩa trang, hồi thời bà phủ S. chưa bán đất cho Hội Tương tế X. Họ nói với nhau: “Nhà Nước này ngang ngược không nể nang ai hết. Có ngày sẽ bị Trời Phật trừng phạt cho coi !”.

Bên phòng mạch, bây giờ, lúc nào cũng đông người. Có bịnh nhân đến xem mạch và có những người không phải đến xem mạch nhưng đã từng uống thuốc của thầy Năm Chén. Những người này, sau khi cúng bái bên chùa, bước qua đây ngồi nói chuyện cà kê. Làm như để hổ trợ tinh thần thầy vậy. Có người hỏi:

– Rồi thầy dọn đi đâu ?

– Biết đi mô chừ !

– Quân gì mà vô nhân đạo. Muốn đuổi ai thì đuổi. Muốn lấy của ai thì lấy. Mà mở miệng ra là”cho nhân dân, vì nhân dân”.

– Tại cái số của tôi như rứa, mấy ông à. Nói mần chi ?

Bây giờ, thầy Năm Chén, sau khi trao mấy thang thuốc cho bịnh nhân, không phải chỉ nói vỏn vẹn câu quen thuộc “đổ năm chén nước, sắc còn một chén uống”, mà còn dặn dò thêm phải ăn uống như thế nào, phải kiêng cữ những gì bởi vì “cái tạng ni dễ bị bịnh khi trái gió trở trời”…

Thầy còn nói: “Khi mô thấy bắt đầu khó chịu thì lấy bao nhiêu lá gì với lá gì kèm theo bao nhiêu bông gì với bông gì… sắc uống cho nó chận”. Thầy làm như ngày mai thầy sắp đi xa. Và chắc đi lâu lắm, bịnh nhân cần bảo trọng lấy thân. Người nào cũng cảm động khi nhận mấy thang thuốc của thầy, mấy thang thuốc không phải chỉ có những vị này vị nọ, mà có cả tình người nằm trong đó. Chất liệu trân quí này, trong thời buổi này, thật hiếm hoi. Cho nên, khi cầm trên tay mấy thang thuốc, cử chỉ của họ bỗng trở nên trang trọng. Và người nào cũng nghĩ: “Tội nghiệp ! Người hiền hậu như vậy, bảy tám năm nay giúp đỡ đồng bào bịnh nhân ai cũng mang ơn… Vậy mà chánh quyền cũng không để cho yên !”.

Ít lâu sau, Kiệt được một người bạn có tàu đánh cá rủ đi chui bởi hắn đang cần người xếp máy. Kiệt về chùa cho cha hay. Thầy Năm Chén mừng rớt nước mắt:

– Rứa là lời cầu nguyện của cha đã được Ơn Trên chứng giám. Khi mô đi ?

– Mười hôm nữa.

– Ờ… Chừ thì mình vô thắp nhang lạy tạ Trời Phật, đi con.

Năm hôm sau, bỗng thầy Năm Chén than “khó ở”, “tỳ vị bất thông”. Thầy không ăn được cơm, thầy ăn cháo. Cháo với chao, tương, rau luộc. Không ăn được những món cứng như dưa leo, dưa cải, củ cải muối… những món thường dùng trong bữa cơm chay lạt ở chùa. Không thấy thầy uống thuốc. Thầy nói: “Cứ ăn cháo vài hôm là khỏi”. Sư ông thương hại, an ủi: “Họ đuổi thì mình đi. Thầy lo làm chi cho sanh bịnh. Chừng hết hạn bốc mộ, tôi sẽ đưa thầy về quê tôi ở Nha Trang. Ở đó, cũng có một ngôi chùa nhỏ như vầy. Mình sẽ tiếp tục giúp đồng bào như đã làm lâu nay. Thầy yên tâm đi. A di đà Phật…”.

Ngày thứ mười, cha con thầy Năm Chén qua chùa lạy Phật. Xong, thầy đưa cho Kiệt một gói bằng vải đỏ đã phai màu nhỏ bằng đầu ngón tay cái, cột làm nhiều gút, nói:

– Cha cho con cái ni. Con giữ kỹ trong người để hộ thân.

Kiệt cho vào túi áo trên ngực, cẩn thận gài miệng túi bằng cây kim tây, nhìn cha cảm động, nghĩ: “Cha thật chu đáo. Còn nhớ cho mình bùa ngải để hộ thân nữa”.

Chia tay mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý ! Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ, chỉ có thở dài là không thấy ai để ý. Bởi vì, ai cũng thở dài hết !

Thời gian sau, thầy Năm Chén theo sư ông về chùa ở ngoại ô Nha Trang. Thầy lại bốc thuốc giúp đồng bào nghèo. Kiệt đi chui, lọt. Rồi định cư ở Canada…

Một hôm, sực nhớ gói bùa ngải của cha, Kiệt tò mò mở ra xem: đó làba cái răng vàng, loại răng cấm. Thì ra thầy Năm Chén đã cạy ba cái răng vàng của mình để cho con làm của hộ thân ! Không còn răng để nhai cơm, thầy chịu ăn cháo suốt phần đời còn lại. Nhớ cha, thương cha, Kiệt cầm ba cái răng vàng trong tay mà khóc hết nước mắt…

St